Một người đi từ Bắc vào Nam vẫn ở trong cùng một đất nước, nói cùng một ngôn ngữ, nhưng đôi khi lại có cảm giác như vừa bước sang một hệ quy chiếu khác.
Cách nói chuyện khác. Cách mời nhau ăn khác. Cách nhìn về tiền bạc, học hành, thứ bậc hay quan hệ cũng có thể khác.
Phản ứng quen thuộc là gói tất cả vào vài nhãn ngắn: người miền này thế nọ, người miền kia thế kia.
Nhanh. Dễ nhớ. Và thường quá đơn giản.
Bài viết của LogBaseX về phản xạ văn hóa các vùng miền Việt Nam gợi ra một cách nhìn hữu ích hơn: thay vì hỏi một vùng có “tính cách” gì, hãy hỏi hoàn cảnh nào từng khiến một kiểu ứng xử trở nên hợp lý.
Văn hóa không nằm trong máu
Một thói quen ứng xử hiếm khi xuất hiện từ một nguyên nhân duy nhất.
Nó có thể được hình thành qua nhiều lớp chồng lên nhau:
- điều kiện tự nhiên và cách kiếm sống;
- mật độ dân cư và cấu trúc cộng đồng;
- thiết chế chính trị, pháp luật và giáo dục;
- chiến tranh, di cư và ký ức gia đình;
- tôn giáo, thương mại và giao lưu với các cộng đồng khác.
Một cách giao tiếp thận trọng có thể từng giúp con người tồn tại tốt hơn trong cộng đồng nhỏ, nơi mọi quan hệ đều kéo dài nhiều năm. Một thái độ trực tiếp có thể phù hợp hơn trong môi trường thương mại, nơi người lạ cần nhanh chóng hiểu nhau để làm việc.
Điều quan trọng là: một phản xạ từng có ích trong hoàn cảnh cũ vẫn có thể được truyền lại sau khi hoàn cảnh ấy đã thay đổi.
Nó đi qua gia đình, trường học, khu phố, cách người lớn xử lý xung đột và những điều trẻ con quan sát mỗi ngày.
Không ai cần ngồi xuống dạy thành một bài hoàn chỉnh. Người sau chỉ cần nhìn cách người trước sống rồi lặp lại.
Miền Bắc: quan hệ lâu dài, học vấn và khả năng đọc tình huống
Khi nhìn vào đồng bằng sông Hồng và Hà Nội, bài nguồn đặt cạnh nhau nhiều yếu tố: mật độ dân cư cao, đất đai hữu hạn, cộng đồng làng xã bền chặt, ảnh hưởng của Nho học và khoa cử, vị trí gần trung tâm quyền lực, cùng kinh nghiệm của thời bao cấp.
Khung đó có thể giúp giải thích vì sao học vấn, thứ bậc, sự tích lũy và khả năng đọc tình huống thường được coi trọng.
Trong một cộng đồng nơi người ta sống với nhau lâu dài, lời nói không chỉ phục vụ cuộc trao đổi trước mắt. Nó còn phải giữ chỗ cho quan hệ ngày mai. Nói quá thẳng có thể giải quyết nhanh một việc nhưng làm khó nhiều việc sau đó.
Vì thế, sự thận trọng trong giao tiếp không nhất thiết là thiếu rõ ràng. Trong một số bối cảnh, đó là kỹ năng quản lý quan hệ.
Mặt khác, cùng nền tảng ấy cũng nuôi dưỡng truyền thống học thuật, văn chương, nề nếp gia đình và sự coi trọng con đường học hành.
Một đặc điểm văn hóa luôn có nhiều mặt. Nếu chỉ lấy phần mình không thích để đại diện cho cả vùng, ta đã bỏ mất phần còn lại.
Miền Trung không phải một dải đồng nhất
Gọi chung là miền Trung rất tiện trên bản đồ, nhưng lại dễ che khuất sự khác biệt giữa Thanh–Nghệ–Tĩnh, Huế–Đà Nẵng–Quảng Nam và vùng Nam Trung Bộ.
Mỗi khu vực đi qua một lịch sử khác nhau.
Có nơi nổi bật bởi truyền thống khoa bảng. Có nơi mang dấu ấn của kinh đô và nghi lễ cung đình. Có nơi còn thấy rõ ảnh hưởng Chăm trong kiến trúc, tín ngưỡng và thẩm mỹ. Có nơi đời sống được định hình mạnh bởi biển, thương mại hoặc các đợt di cư lao động.
Bài nguồn liên hệ điều kiện tự nhiên khó đoán và lịch sử nhiều biến động với việc coi trọng gia đình, danh dự, học vấn và nghi lễ. Đây là một mô hình diễn giải đáng suy nghĩ, nhưng không nên biến thành công thức nhân quả cứng.
Bão lũ không tự động tạo ra một kiểu tính cách. Địa lý chỉ là một phần. Cách cộng đồng tổ chức đời sống, cách các thiết chế vận hành và ký ức được truyền qua nhiều thế hệ mới làm bức tranh trở nên phức tạp.
Điểm đáng giữ lại không phải là một danh sách phẩm chất của “người miền Trung”. Điểm đáng giữ là ý thức rằng ngay trong một miền đã có nhiều quỹ đạo văn hóa khác nhau.
Miền Nam: di cư, cộng cư và logic của trao đổi
Lịch sử phương Nam gắn với những đợt khai phá và di dân tương đối muộn, cùng sự cộng cư của người Việt, Hoa, Khmer, Chăm và nhiều cộng đồng khác.
Thương mại, đô thị và nhu cầu hợp tác với người ngoài tạo ra một môi trường khác với làng xã ổn định lâu đời.
Trong trao đổi, sự rõ ràng có giá trị. Trong một cộng đồng gồm nhiều nhóm, khả năng thích nghi và tiếp nhận người mới trở thành lợi thế. Khi quan hệ không nhất thiết được bảo đảm bởi họ hàng hoặc làng xóm, niềm tin phải được xây bằng cách khác.
Khung này phần nào giải thích hình ảnh về lối giao tiếp trực tiếp, ít câu nệ và cởi mở thường gắn với Nam Bộ.
Nhưng Nam Bộ cũng không đồng nhất với Sài Gòn.
Sài Gòn là một phiên bản được đô thị hóa và thương mại hóa mạnh. Đời sống của miền Tây, Đông Nam Bộ hay các cộng đồng tôn giáo như Cao Đài, Hòa Hảo có những nhịp riêng không thể gom hết vào một thành phố.
Nếu lấy trải nghiệm ở trung tâm TP.HCM để kết luận cho toàn bộ miền Nam, ta đang lặp lại đúng lỗi đơn giản hóa đã xảy ra với miền Trung.
Một tấm bản đồ không đủ để giải thích một con người
Địa lý có ảnh hưởng, nhưng không quyết định tất cả.
Cộng đồng Bắc 54 là một ví dụ đáng chú ý. Khi chuyển vào một môi trường địa lý khác, nhiều gia đình vẫn duy trì bản sắc qua tôn giáo, ký ức di cư, mạng lưới cộng đồng và cách giáo dục con cái.
Điều đó nhắc rằng văn hóa không chỉ bám vào đất. Nó còn bám vào thiết chế và các mối quan hệ.
Một người lớn lên ở Hà Nội trong gia đình nhiều thế hệ sẽ khác một người mới đến Hà Nội học tập và làm việc. Một người trẻ sống ở trung tâm Đà Nẵng có thể chia sẻ nhiều thói quen với người trẻ ở TP.HCM hơn với thế hệ lớn tuổi trong cùng tỉnh. Hai gia đình cùng quê vẫn có thể rất khác nhau vì nghề nghiệp, điều kiện kinh tế, tôn giáo và lịch sử riêng.
Vì vậy, ba miền chỉ là lớp đầu tiên của bản đồ.
Bên dưới còn có:
- thành thị và nông thôn;
- thế hệ trẻ và thế hệ lớn tuổi;
- nhóm nghề nghiệp và giai tầng kinh tế;
- cộng đồng tôn giáo và dân tộc;
- gia đình bản địa và gia đình di cư.
Càng đi xuống gần một con người cụ thể, nhãn vùng miền càng mất dần khả năng giải thích.
Đường phân chia mới có thể không còn là Bắc–Trung–Nam
Đô thị hóa, di cư nội địa, kinh tế thị trường và truyền thông đang làm nhiều khác biệt vùng miền thu hẹp lại.
Người trẻ ở các thành phố lớn cùng dùng những nền tảng giống nhau, học trong các mô hình tương tự, làm việc cho những doanh nghiệp có cùng tiêu chuẩn và đối mặt với những áp lực gần nhau: giá nhà, cạnh tranh nghề nghiệp, năng lực ngoại ngữ, tốc độ công nghệ.
Hà Nội phải cởi mở và trực tiếp hơn khi dịch vụ, du lịch và doanh nghiệp quốc tế phát triển. TP.HCM cũng trở nên thận trọng hơn khi chi phí sống, cạnh tranh việc làm và áp lực giáo dục tăng lên.
Các phản xạ bắt đầu hội tụ vì phần thưởng xã hội đã thay đổi.
Có thể trong tương lai, khoảng cách giữa người trẻ thành thị và người ở nông thôn sẽ đáng chú ý hơn khoảng cách giữa hai người trẻ sống ở Hà Nội và TP.HCM.
Nhưng hội tụ không có nghĩa là hòa tan.
Giọng nói, món ăn, nghi lễ, nghệ thuật và ký ức địa phương vẫn có thể được giữ lại, thậm chí được chủ động phục hồi. Con người có thể dùng chung một cách làm việc nhưng vẫn kể những câu chuyện khác nhau về nơi mình thuộc về.
Dùng góc nhìn vùng miền như một giả thuyết, không phải bản án
Khung phân tích văn hóa có ích nhất khi nó giúp ta đặt câu hỏi tốt hơn.
Thay vì nói:
Người vùng này vốn là như vậy.
Có thể thử hỏi:
- Hành vi này từng có ích trong hoàn cảnh nào?
- Những thiết chế nào đang tiếp tục duy trì nó?
- Trong cùng vùng, ai không hành xử như vậy?
- Thế hệ trẻ có còn giữ phản xạ ấy không?
- Điều gì đang thay đổi khi môi trường kinh tế và xã hội đổi khác?
Cách hỏi này không phủ nhận khác biệt. Nó chỉ từ chối biến khác biệt thành định mệnh.
Ta vẫn có thể nhận ra xu hướng chung, nhưng phải giữ đủ khoảng trống cho ngoại lệ. Ta có thể dùng lịch sử để hiểu một hành vi, nhưng không dùng lịch sử để miễn trách nhiệm cho hành vi ấy. Ta có thể tò mò về xuất thân của một người, nhưng không dùng xuất thân để kết luận trước về họ.
Hiểu để làm việc cùng nhau tốt hơn
Giá trị thực tế của việc tìm hiểu văn hóa vùng miền không nằm ở chỗ có thêm vài nhãn dán tinh vi hơn.
Nó nằm ở khả năng điều chỉnh cách làm việc và giao tiếp.
Khi biết một người có thể đang ưu tiên giữ quan hệ lâu dài, ta hiểu vì sao họ không trả lời thẳng ngay từ đầu. Khi biết một người quen với logic trao đổi rõ ràng, ta hiểu vì sao họ muốn chốt nhanh điều kiện và trách nhiệm. Khi hiểu vai trò của gia đình, danh dự hay cộng đồng trong một quyết định, ta bớt nhìn mọi thứ chỉ bằng tiêu chuẩn của mình.
Hiểu bối cảnh không buộc ta phải đồng ý.
Nó chỉ giúp ta phản ứng bớt vội vàng.
Vùng miền có thể giải thích một phần cách con người học để sống. Nhưng nó không phải toàn bộ con người ấy.
Dùng bản đồ để bắt đầu quan sát.
Đừng dùng bản đồ để kết thúc phán xét.